Chương trình phát triển nguồn vốn nhân lực

       Chương trinh phát triển nguồn vốn nhân lực tại Chemico, Inc. Dựa trên mô hình nhóm công việc chiến lược, công ty muốn đạt đến mức sẵn sàng về nguồn vốn nhân lực trên 90% trong cả tám nhóm công việc chiến lược.

Chương trình phát triển nguồn vốn nhân lực

        Bộ phận nhân sự phát triển và quản lý các biện pháp để đạt được mục tiêu này. Nhóm chiến lược nhân sự của Chemico được giao trách nhiệm hỗ trợ quy trình này, chọn ra bốn biện pháp chiến lược – một phương pháp tuyển dụng nhân viên mới, một phương pháp đào tạo chính thức, một phương pháp phát triển từ công việc, và một mạng lưới các nhóm đồng nghiệp để trao đổi kinh nghiệm. Nhóm chiến lược nhân sự điều chỉnh từng biện pháp này để đạt được mục đích sẵn sàng chiến lược của các nhóm công việc cụ thể. Các nhà quản trị chịu trách nhiệm về từng chủ để chiến lược (xem cột bên trái ở phía dưới hình 8-7) đóng vai trò như khách hàng của các biện pháp này, tài trợ và đánh giá kết quả của chúng. Chương trình phát triển nguồn nhân lực của Chemico hiện giờ đã được tập trung và gắn kết với chiến lược của công ty.
         Nhóm công việc chiến lược tại Gray-Syracuse
       Gray-Syracuse (GS), công ty đúc khuôn chính xác đã được mô tả trong phần mở đầu của chương 1, cho chúng ta một ví dụ khác về chương trình phát triển nguồn nhân lực dựa trên phương pháp nhóm công việc. Nhân viên của công ty thực hiện việc thiết kế khuôn và lựa chọn hợp kim theo yêu cầu cao của khách hàng. Thành phần bổ sung của tập hợp giá trị mang lại cho khách hàng bao gồm các sản phẩm chính xác chất lượng cao, phân phối kịp thời và giá cả cạnh tranh. Năng lực cán có của nhân viên bao gồm khả năng sử dụng chương trình mô hình cơ khí chính xác trên máy tính, chuyên mồn về luyện kim và kỹ thuật đúc khuôn. Một trong các quy trình quản lý vận hành tập trung vào việc phần phối hàng chất lượng cao đến khách hàng bằng cách giảm khâu sản xuất lại sản phẩm (hình 8-8). Trước đầy, công ty đã từng sử dụng phương pháp sản xuất linh động c ở phần cuối quy trình sản xuất, khi các bộ phận khuôn đúc dã được hình thành.

      Chiến lược mới xác định phần đầu của quy trình là cơ hội quan trọng để giảm sản xuất lại sản phẩm. Nghĩa là áp dụng phương pháp quản lý linh hoạt vào quy trình ráp khuôn. Trong quy trình này, công nhân lắp ráp mẫu khuôn bằng sáp do máy tạo mẫu làm ra, trước khi chuyển chúng sang hợp chất kim loại. Phần tích vé bản đó chiến lược đã xác định nhân viên ráp khuôn, một công việc lao động cơ bản, là nhóm công việc chiến lược trong quy trình này. Ba mươi nhân viên, với khả năng thao tác khéo léo trong quy trình lắp ráp, đã được tuyển chọn cho vị trí này.


Phát triển nguồn nhân lực

       Bản đổ chiến lược thu hút sự tập trung vào các chương trình nhân sự – như tuyển dụng, đào tạo và hướng nghiệp – để phát triển nguồn nhân lực cho tổ chức. Nếu không có sự định hướng của bản đồ chiến lược, hấu hết chương phát triển nhân sự đểu nỗ lực đáp ứng nhu cấu của tất cả nhân viên, và do vậy không đầu tư đúng mức vào các công việc thực sự đem lại sự khác biệt. Bằng cách tập trung các khoản đầu tư nhân sự và các chương trình phát triển vào số lượng tương đổi nhỏ (thường ít hơn 10%) nhân viên ở các công việc chiến lược, tổ chức có thể đạt được các kết quà đột phá nhanh hơn và ít tốn kém hơn việc chi tiêu phần tán cho nhân sự.

Phát triển nguồn nhân lực

       Hai phương pháp vận hành khác nhau, được tóm tắt trong hình 8-6, có thể được dùng để tạo ra sự gắn kết chiến lược. Dưới mô hình nhóm công việc chiến lược, tổ chức tập trung các chương trình nhân sự của mình vào một vải cồng việc có ý nghĩa then chốt với chiến lược. Sự tập trung này góp phần đẩy nhanh tốc độ hành động và chi tiêu hiệu quả. Nhưng phương pháp này cũng cho thấy đến 90% lực lượng lao động thuộc nhóm công việc không có tính chiến lược và vì vậy các công ty có thể bỏ qua các nhu cầu phát triển hợp lý của họ. Mô hình giá trị chiến lược bắt đầu bằng tiền đề rằng chiến lược là công việc của tát cả mọi người – rằng chiến lược bao gồm một tập hợp các giá trị và mối ưu tiên được đưa vào trong các mục tiêu và hành động của mọi người. Rõ ràng cả hai mô hình này đều hợp lý và cần thiết để thành công và cả hai đều phù hợp với định nghĩa về sự tập trung và đã được áp dụng thành công trong thực tế.

       Nhưng theo kinh nghiệm của chúng tôi, chúng không thể được vận hành như một chương trình thống nhất. Các chương trình phát triển năng lực của nhân viên trong các nhóm công việc chiến lược nên được tách ra và đầu tư riêng biệt, chẳng hạn các khoản đẩu tư nên được giải ngân và quản lý độc lập với các chương trình chi tiều thông thường hàng năm. Tiến trình xóa bỏ khoảng cách năng lực của nhóm công việc chiến lược nên là cơ sở để báo cáo về sự sẵn sàng của nguồn nhân lực chiến lược. Mặt khác, mô hình giá trị chiến lược cung cấp nền tảng cho một chương trình quản lý kết quả công việc điều chỉnh trong việc thiết lập mục tiêu cho toàn bộ lực lượng lao động.


Đánh giá sự sẵn sàng của nguồn nhân lực

      Ở bước 3, tổ chức đánh giá khả năng và năng lực hiện tại của nhân viên trong các nhóm công việc chiến lược. Người đánh giá có thể áp dụng một trong rất nhiều phương pháp để đánh giá tiềm năng và kết quả làm việc của một cá nhân.       Một mặt, mỗi nhân viên thực hiện tự đánh giá bản thân so với các yêu cầu công việc của mình và sau đó thảo luận với một nhà tư ván hoặc nhà quản lý nghề nghiệp. Mặt khác, người đánh giá thu thập các phản hồi toàn diện từ đồng nghiệp, cấp trên và cấp dưới về các vấn để khác nhau liên quan đến kết quả làm việc của nhân viên. Một lần nữa, phản hồi đó được dùng làm cơ sở cho một cuộc đổi thoại phát triển nghề nghiệp. Những đánh giá mang lại cho các cá nhân một sự hiểu biết rõ ràng về các mục tiêu của họ, một phản hổi đẩy ý nghĩa về kết quả công việc và năng lực hiện tại của họ, và một cách tiếp cận thực tế để phát triển cá nhân trong tương lai. Vì sự quan trọng của mình, việc đánh giá sự sẵn sàng chiến lược của nhân viên trong các nhóm công việc chiến lược cần được thực hiện đặc biệt, khác với các quy trình quản lý kết quả làm việc thông thường trong tổ chức.

Đánh giá sự sẵn sàng của nguồn nhân lực

        Đói với nhiều tổ chức, việc thể hiện rõ ràng các chiến lược của họ qua nguyên tắc cấu trúc chặt chẽ của một bản đổ chiến lược là một thử nghiệm mới. Chiến lược, tập trung vào các lĩnh vực chủ yếu cần thay đổi và phát triển trong tổ chức, thường cho thấy nhiều nhóm công việc chiến lược chưa hể được tóm tại trong tổ chức. Ví dụ như tại Chemico, bốn trong số tám nhóm công việc chiến lược là hoàn toàn mới đổi với công ty. Giám đốc liên doanh và kỹ sư môi trường đã được bổ sung trong năm ngoái, và việc tuyển dụng nhân sự cho các quy trình chuỗi cung ứng và thu mua nguyên liệu cũng đã mới được bắt đầu.
       Chuyên viên nhân sự của Chemico chọn ra một nhà quản lý để tìm ra biện pháp lấp đầy các vị trí đó. Nhà quản trị này tạo ra danh mục hồ sơ công việc dựa trên các năng lực cần có để thực hiện các quy trình mới.
      Cùng với chuyên viên nhân sự, nhà quản trị này thực hiện một bản đánh giá vé sự sẵn sàng của dội ngũ nhân viên hiện tại để bổ sung cho các vị trí mới được xác định. Như minh họa ở phần dưới trong hình 8-5, sự sán sàng chiến lược trong những công việc này (nhà khoa học có kinh nghiệm, kỹ sư giải pháp và nhân viên call-center) hiện tại nằm trong khoảng từ 40% đén 75%. Nhà quản trị này đề ra một chương trình phát triển nguồn nhân lực để xóa bỏ khoảng cách đó. Và ta két nối chương trình này với chương trình quản lý kết quả công việc, để danh mục năng lực mới trở thành một phán trong mục tiêu cá nhân của nhân viên và trong các kế hoạch phát triển.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: ban do chien luoc, mục tiêu chiến lược

Xây dựng danh mục năng lực

       Ở bước 1, tổ chức xác định các nhóm công việc quyết định sự thành công của chiến lược. Bước 2 xác định yêu cầu của những nhóm công việc này một cách khá chi tiết. Công việc này được gọi là lập danh mục công việc hay lập danh mục năng lực.       Một danh mục năng lực mô tả kiến thức, kỹ năng và các giá trị cẩn có để hoàn thành nhiệm vụ cho một vị trí cụ thể. Phòng nhân sự có nhiều phương pháp khác nhau để tạo ra các hồ sơ như vậy, chẳng hạn như phỏng vấn người hiểu rõ nhất về các yêu cầu của công việc. Hổ sơ năng lực là cơ sở tham khảo cho bộ phận Nhân sự khi tuyển dụng, thuê mướn, huấn luyện và phát triển nhân sự cho các vị trí trong tố chức.

Xây dựng danh mục năng lực

       Chemico, Inc. dùng một biểu đồ đơn giản (xem hình 8-4) để minh họa cho ba thành phẩn trong danh mục năng lực của nó:
       Kiến thức: kiến thức tổng quát cần có để thực hiện công việc. Kiến thức tổng quát này bao gồm kiến thức cụ thể về cồng việc (ví dụ như một “chuyên gia về lĩnh vực cụ thể”), cũng như các kiến thức liên quan khác (ví dụ như “hiểu biết khách hàng”). Các kiến thức liên quan này điều chỉnh kiến thức kiến thức cụ thể vé công việc cho phù hợp với môi trường và bối cảnh của công việc.
     Kỹ năng: các kỹ năng cán có để bổ sung cho kiến thức cơ bản tổng quát, ví dụ như các kỹ năng thương lượng, tư vấn, hoặc quản lý dự án.
     Giá trị: tập hợp các phẩm chất và hành vi tạo ra kết quả nổi bật trong một công việc cụ thể. Một vài công việc đòi hỏi tinh thắn tập thể, trong khi các công việc khác lại được xầỵ dựng quanh sự quan tầm đến khách hàng. Tìm kiếm giá trị phù hợp với công việc là rất cấn thiết.
      Một danh mục năng lực đã được đơn giản hóa cho bảy nhóm công việc chiến lược của Chemico. Ví dụ, các kỹ sư thiết kế giải pháp đóng vai trò như các tư vấn viên khi làm việc trực tiếp với khách hàng. Họ sử dụng kiến thức về sản phẩm của Chemico để giải quyết các vấn để của khách hàng. Những đòi hỏi về kiến thức tổng quát cho công việc của họ bao gốm một sự hiểu biết sâu về mô hình và ngành nghề kinh doanh của khách hàng, cũng như sự hiểu biết tương tự về dòng sản phẩm của Chemico và cách sử dụng các sản phẩm này tốt nhất. Kỹ sư giải pháp cẩn có kỹ năng tư vấn, bao gồm các kỹ năng giải quyết vấn để, quản lý dự án và quản lý sự thay đổi và quản lý quan hệ khách hàng. Giá trị chủ yếu của kỹ sư giải pháp là tạo ra mối quan hệ cộng tác tin tưởng và lâu dài với khách hàng.

Quy trình đổi mới chiến lược

      Các nhóm công việc của Chemico, Lnc., nhà sản xuất hàng đẩu trong lĩnh vực hóa chất, là một ví dụ khác toàn diện hơn. Chemico thực hiện một chiến lược giải pháp khách hàng qua việc xây dựng mối quan hệ cá nhân và kỹ thuật giữa các kỹ sư của công ty với các kỹ sư làm việc cho các công ty khách hàng quan trọng. Các kỹ sư của Chemico đã tạo ra những giải pháp cải tiến để giải quyết các vấn đề của khách hàng thông qua kết nối chặt chẽ giữa việc phát triển kỹ thuật và phát triển sản phẩm mới.

Quy trình đổi mới chiến lược

       Chủ để sáng tạo của Chemico gồm hai quy trình chiến lược: sự cộng tác để cải thiện tính đa dạng và tốc độ phát triển sản phẩm mới, và nghiên cứu ứng dụng để bảo đảm các sản phẩm mới được phát triển một cách đểu đặn và ổn định. Ban quản trị của Chemico xác định nhóm công việc chiến lược cho từng quy trình đổi mới chiến lược:
       Quy trình cộng tác phát triển sản phẩm
Quản lý chương trình liên kết: những người có khả năng quản lý hiệu quả sự phức tạp của các liên doanh nhiều công ty.
        Quy trình nghiên cứu ứng dụng:
Các nhà khoa học hàng đầu: những người hiểu rõ các lĩnh vực kỹ thuật chuyên sầu để phát triển các ứng dụng sản phẩm mới.
Chủ để quản lý khách hàng của Chemico gồm hai quy trình chiến lược, mỗi quy trình có một nhóm công việc chiến lược tương ứng.
         Quy trình cộng tác với khách hàng
Kỹ sư thiết kế giải pháp: những kỹ sư làm việc như nhà tư vấn, áp dụng sản phẩm của Chemico để giải quyết nhu cầu của khách hàng.
         Quy trình thực hiện đơn đặt hàng
Nhân viên cali-center: các chuyên gia phối hợp với các kỹ sư thiết kế giải pháp để bảo đảm chất lượng và thời hạn cung ứng sản phẩm.
Chủ đề quản lý vận hành bao gồm hai quy trình chiến lược và ba nhóm công việc chiến lược.
         Quy trình hoạch định chuỗi cung ứng
Chuyên gia thiết kế quản lý chuỗi cung ứng: các cá nhân có khả năng dẫn dắt việc tái cấu trúc chuỗi cung ứng của Chemico.
Điều phối viên: những cá nhân làm việc với nhà cung cấp và khách hàng để điểu phối việc lịch trình trong suốt chuỗi cung ứng.
         Chương trình nguyên liệu tồn kho
Chuyên viên thu mua nguyên liệu tồn kho: các chuyên gia làm việc trong một văn phòng kinh doanh năng lượng mới thành lập nhằm giảm đáng kê’ các chi phí chính bẳng cách làm việc liên tục trên thị trường hàng hóa giao ngay để đâm bảo nguồn nguyên liệu tỗn kho cẩn thiết.
Chủ để trách nhiệm xã hội có một quy trình chiến lược và một nhóm công việc tương ứng.
         Chương trình kết quả hoạt động môi trường
Kỹ sư môi trường: một nhóm các chuyên gia hiểu rỏ các yêu cầu về nước sạch và không khí sạch, và phương pháp đế đáp ứng các yêu cầu đó.
Tóm lại, theo bản đổ chiến lược của Cheinico, ban quản trị xác định tám nhóm công việc chiến lược. Những nhóm công việc này cần khoảng 100 trong tổng số 1.500 nhân viên (chiếm 7%). Do vậy sự thành công của chiến lược doanh nghiệp sẽ được quyết định bởi mức độ công ty đầu tư phát triển năng lực cho nhóm dưới 10% lực lượng lao động này. Sự tập trung chiến lược là rất cần thiết trong bước này.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: ban do chien luoc, tầm nhìn chiến lược