Công nghệ thông tin trong thời đại mới

Đầu tư vào công nghệ thông tin đang tăng ổn định hơn ba mươi năm qua. Tuy nhiên hơn 90% chi phí đáng kể hàng năm trong một ngân sách IT điển hình phải dành cho việc vận hành và duy trì các ứng dụng hiện tại. Chi 10% dành cho đầu tư bổ sung khác. Nhưng chính các khoản đầu tư bổ sung này tạo ra sự gắn kết chiến lược.

Công nghệ thông tin trong thời đại mới

Chúng ta xác định một tập hợp các ứng dụng nguồn vốn thông tin và dự án cơ sở hạ tầng IT cần thiết để hỗ trợ cho chiến lược tại Consumer Bank. Tuy danh sách dự án này hợp lý, nhưng mọi dự án lại đòi hỏi một sự đầu tư cụ thể về con người và tiền bạc để mua, phát triển và cài đặt phần mềm. Sự sáng tạo trong quy trình hoạch định chiến lược IT phải phù hợp với tình hình kinh tế của tổ chức. Bảng hướng dẫn phát triển chiến lược đẩu tư nguồn vốn thông tin, phải giải quyết các vấn đề sau:


  • Mức độ đầu tư tổng thế trong các dự án nguồn lực thông tin mới

  • Lập hợp đầu tư cần có theo quy trình chiến lược

  • Tập hợp đẩu tư cần có theo loại nguồn lực thông tin.

Các cuộc nghiên cứu so sánh gần đây cho thấy một tổ chức điển hình dùng khoảng 4% doanh thu cho các hoạt động liên quan đến nguồn vốn thông tin. Con số này thay đổi, biến động trong một biên độ khá lớn tùy theo ngành; với các công ty dịch vụ tài chính bỏ ra 7%, các công ty sản xuất là 1,7%, và các công ty bán lẻ là 1,0%. Trong tổng số tiền này, chúng ta đã biết rằng khoảng 90% không phải là đầu tư bổ sung, vì phải dành để hỗ trợ việc vận hành và duy trì các ứng dụng và cơ sở hạ tầng đã có sẵn. Tuy vậy, các công ty cũng nên quan tâm cải thiện hiệu quả của các hệ thống đang có và gỡ bỏ các ứng dụng đang trở nên lỗi thời.

Phần chi tiêu bổ sung này hỗ trợ các ứng dụng và dự án về nguồn vốn thông tin cần thiết cho chiến lược. Khi chi tiêu quá ít cho nguồn vốn thông tin tổ chức sẽ gặp rủi ro. Các tiến bộ trong ngành công nghệ thông tin vẫn đang là động lực chủ đạo cho nền kinh tế mới. Với chi phí sản xuất các con chip điện tử tiếp tục giảm tới 50% trong mỏi 21 tháng, các ứng dụng và chức năng mới tiếp tục ra đời. Ví dụ như công nghệ đột phá trong ngành máy tính di động và không dầy sẽ là một tác động to lớn đến tất cả các khu vực kinh tế ở tương lai gần.


Quy trình chuyển đổi đến kênh phân phối

       Quy trình chuyển đổi đến kênh phân phối phù hợp đòi hỏi nền tảng các hệ thống giao dịch vững chắc, bao gồm bộ phần mềm chăm sóc khách hàng trọn gói với các mô-đun về quản lý thời gian chờ đợi, quản lý đơn đặt hàng và hệ thống bán hàng tự động.        Đổi với quy trình phản hồi khách hàng nhanh chóng trong chủ để quản lý vận hành, các chuyên gia tham dự xác định một ứng dụng chuyển hóa, hệ thống tự hỗ trợ khách hàng, và một ứng dụng phân tích, một hệ thống quản lý tri thức cộng đồng theo thông lệ tốt nhất bằng việc chia sẻ kỹ năng bán hàng thành công của các nhân viên bán hàng qua điện thoại. Quy trình tối thiểu hóa sự cố cũng cẩn một ứng dụng phân tích về chất lượng dịch vụ để xác định sự cố; và hai hệ thống giao dịch liên quan gồm một hệ thống truy tìm các sự cố và và một hệ thống quản lý sự cố.

Quy trình chuyển đổi đến kênh phân phối

        Danh mục các ứng dụng của tố chức này đòi hỏi một số yếu tố trong cơ sở hạ tầng IT. Gói phán mềm chăm sóc khách hàng tổng hợp có nhiều mô-đun mở rộng là các ứng dụng về khách hàng. Công ty giao cho bộ phận IT nhiệm vụ thu mua, cài đặt và duy trì gói phần mềm. Bộ phận IT cũng chịu trách nhiệm kích hoạt nhiều ứng dụng và tích hợp các ứng dụng này vào trang Web của ngần hàng, ứng dụng tự hỗ trợ khách hàng đòi hỏi công nghệ tương tác trả lời bằng giọng nói, do đó cần thực hiện một dự án nghiên cứu và phát triển nội bộ. Bộ phận IT được coi là bộ phận tiên phong trong tổ chức chịu trách nhiệm bảo đảm rằng các công nghệ mới sẽ được đưa vào sử dụng thành công. Họ cũng được giao trách nhiệm thực hiện việc điện toán hóa điện thoại, một kỹ thuật tương đối mới với ngân hàng.
       Vì vậy, quy trình hoạch định chiến lược IC của ngân hàng đã xác định một danh mục IC gồm mười bốn ứng dụng độc đáo và năm dự án cơ sở hạ tầng IT. Bằng việc chọn lọc danh mục ứng dụng và cơ sở hạ táng dựa trên các quy trình nội bộ quan trọng trong bản đồ chiến lược của doanh nghiệp, các nhà quản trị có thể chắc chắn rằng nguồn vốn thông tin sẽ được gắn kết vào chiến lược của công ty.


Đồng nhất nguồn lực thông tin vào chiến lược

       Các nhà quản lý phải chắc chắn rằng danh mục các ứng dụng nguồn vốn thông tin của họ được gắn kết với các quy trình chiến lược nội bộ trong bản đồ chiến lược của tổ chức. Nhiều tổ chức thành công qua việc tổ chức các buổi hội thảo sau khi đã phác thảo được các bản đổ chiến lược đầu tiên.       Trong mỗi buổi hội thảo, các đại biểu phối hợp phát triển một kế hoạch nguồn vốn thông tin chung cho một chủ đề trong bản đổ chiến lược, chẳng hạn như phản hồi khách hàng nhanh chóng hoặc am hiểu phân khúc khách hàng. Người tham dự hội thảo đến từ các đơn vị kinh doanh khác nhau trong tố chức, cũng như từ bộ phận nhấn sự và IT. Nhờ đó, kiến thức chuyên môn của các chuyên gia IT và các chuyên gia khác được tập hợp thành nguồn vốn thông tin cần thiết cho mỗi thành phấn của chiến lược. Kết quả từ các buổi hội thảo này được tuyên truyền ngược lại đến các bộ phận để thực thi kế hoạch.

Đồng nhất nguồn lực thông tin vào chiến lược

      Quay trở lại trường hợp Consumber Bank, được để cập trong chương 7, chiến lược được áp dụng là giải pháp khách hàng dựa trên việc xây dựng mỗi quan hệ cá nhân giữa khách hàng và nhân viên tư ván tài chính. Với quy trình bán chéo trong chủ để quản lý khách hàng, nhóm hội thảo xác định hệ thống tự quản lý danh mục khách hàng là một ứng dụng chuyển đổi. ứng dụng này giúp khách hàng phản tích và kiếm soát kế hoạch tài chính của riêng họ.

      Nhóm chiến lược cũng xác định ứng dụng phân tích về bán chéo – hệ thống quản lý lợi nhuận từ khách hàng – và ứng dụng giao dịch – chương trình hồ sơ khách hàng tổng hợp. Quy trình am hiểu phân khúc khách hàng cho thấy cũng cần phải có một hệ thống quản lý lợi nhuận từ khách hàng, cũng như một hệ thống riêng biệt nhận phản hồi từ khách hàng để nghiên cứu thị trường trực tiếp. Tuy nhiên họ không xác định được ứng dụng chuyển đổi nào cho quy trình này.

Cơ sở hạ tầng vật chất

       Các ứng dụng nguồn vốn thông tin chỉ hoạt động nếu được hỗ trợ bởi nền tảng của cơ sờ hạ tâng công nghệ được dùng chung cho nhiều ứng dụng. Peter Weill và Marianne Broadbent đã cung cấp cho những nhà lãnh đạo hay suy nghĩ, tư duy rất nhiều bài viết về lĩnh vực này.       Dựa trên nghiên cứu về hơn 100 công ty trên khắp thế giới, họ đã xác định mười loại cơ sở hạ tầng mà doanh nghiệp nên chủ động quản lý. Cơ sở hạ tầng vật chất (physical infrastructure) bao gồm:

Cơ sở hạ tầng vật chất

• Cơ sở hạ tầng ứng dụng (các ứng dụng dùng chung như thư điện tử, Internet, máy tính không dây)
• Quản lý truyền thông (mạng lưới băng thông rộng, mạng nội bộ)
• Quản lý dữ liệu (kho dữ liệu được trung tâm hóa)
• An ninh và rủi ro (chính sách an ninh, kế hoạch ứng phó cự cố, các tường lùa)
• Quán lý kênh truyền dẫn (web site, tổng đài trung tâm)
• Quản lý trang thiết bị (các máy chủ quy mô lớn, hệ thống máy chủ, mạng LAN)
Cơ sở hạ tầng quản lý (management infrastructure) bao gồm:
• Quản lý IT (hoạch định hệ thống thông tin, các hợp đồng dịch vụ, các thỏa thuận với nhà cung cấp)
• Kiến trúc và tiêu chuẩn (về dữ liệu, truyền thông, công nghệ v.v…)
• Giáo dục IT (đào tạo, giáo dục về quản lý)
• Nghiên cứu và phát triển IT (các kỹ thuật vừa được phát hiện)
     Đầu tư vào cơ sở hạ tầng công nghệ thường tiêu tốn gần 60% chi phí IT. Nhưng chi phí này hiếm khi thể hiện thành các lợi ích hữu hình. Các lợi ích này chỉ xuất hiện qua các ứng dụng nhờ vào cơ sở hạ tầng IT (hoặc từ việc tránh thất thoát do trộm cướp, thảm họa và vi phạm an toàn công nghệ thông tin). Các nhà quản lý cần hiểu được cách thức các khoản đầu tư vào cơ sở hạ tầng tạo điều kiện cho các danh mục ứng dụng IT. Họ cũng cẩn biết rằng các cơ sở hạ tâng khác nhau hoặc là sẽ tạo ra các hạn chế, hoặc là tăng thêm giải pháp cho các ứng dụng IT. Ví dụ, nếu không có hệ thống mạng toàn cầu, công ty sẽ không thể phát triển hệ thống quản lý tri thức để các chuyên gia trên khắp thế giới chia sẻ kinh nghiệm và kỹ năng với nhau.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: ban do chien luoc, chien luoc phat trien

Các ứng dụng chuyển đổi

       Nhóm nhân viên quản lý sự sẵn sàng chiến lược của các tài sản vô hình khác, và tài sản hữu hình và tài chính của tổ chức, cũng cần có nguồn vốn thông tin. Đó là các nhóm ở những lĩnh vực gồm tài chính, nhân sự, và kế hoạch chiến lược.       Việc quản lý tài chính đạt đến những mức hiệu quả mới nhờ việc áp dụng hệ thống ERP ở cấp độ giao dịch trong những năm 1990. Các hệ thống ở cấp độ giao dịch hỗ trợ các ứng dụng phân tích, chẳng hạn như định phí theo hoạt động, phân tích tài chính, các mô hình quản lý tài chính chuyển đổi chẳng hạn như quản lý giá trị cổ đông và quản lý dựa theo giá trị. Việc áp dụng hệ thống ERP có tác động tích cực tương tự trong quản lý nguồn nhân lực, giúp theo dõi thành tích nhân viên và quản lý phúc lợi nhản viên. Các hệ thống nhân sự trực tuyến cho phép nhân viên trực tiếp kiếm soát chương trình phúc lợi của họ. Hệ thống ERP cũng hỗ trợ cho các ứng dụng phần tích, như hệ thống báo cáo tuần thủ đến các cơ quan nhà nước và tuyển dụng trực tuyến. Một trong những ứng dụng chiến lược quan trọng là các chương trình đào tạo trực tuyến đã được điểu chỉnh để phát triển kỹ năng của các nhóm công việc chiến lược đã nêu trong chương 8.

Các ứng dụng chuyển đổi

      Các ứng dụng chuyển đổi bao gồm chương trình quản lý sự sẵn sàng của nguồn vốn nhân sự. Các quy trình hoạch định chiến lược phụ thuộc vào hệ thống thực hiện các quy trình khác, được tích hợp thông qua kho dữ liệu. Một loạt các ứng dụng ph ân tích – như quản lý theo hoạt động, mô hình dự báo, hoạch định theo tình huống, và các chương trình mô phỏng – cải thiện đáng kể các quy trình hoạch định chiến lược. Phần mềm Thẻ điểm cản bằng, được gắn liển với các hệ thống báo cáo quản trị mới và cung cấp lịch trình của các cuộc họp chiến lược, đang thể hiện cho tính chuyển đổi của nó.